Trong
các khu rừng tự nhiên của Hà Giang, cây chè Shan mọc lẫn với các loại
cây rừng khác. Quá trình du cư đến sinh sống, đồng bào phá rừng làm
nương và giữ lại các cây chè, tiếp tục khai thác. Có những nơi, đồng
bào còn trồng bổ sungbằng hạt, tạo nên những nương chè hỗn giao theo
dạng chè rừng.
Ở
Hà Giang, chè shan phân bố hầu khắp các huyện, trong đó các vùng chè cổ
thụ đều có độ cao từ 300-1000m. Cho đến nay, một số vùng trong tỉnh có
tính đặc trưng cao cho các tiểu vùng sinh thái có chè shan như: Lũng
Phìn- Đồng Văn đại diện cho vùng cao núi đá vôi; Phìn Hồ- Hoàng Su Phì
đại diện cho vùng cao núi đất; Tham Vè, Bó Đướt- Vị Xuyên đại diện cho
vùng chè cổ nhất Việt Nam. Đây cũng chính là những địa phương có sản
phẩm chè shan tuyết thơm ngon nổi tiếng. Danh tiếng của chè shan tuyết
Lũng Phìn hay Phìn Hồ, Cao bồ, Thượng Sơn… không chỉ chinh phục được
người tiêu dùng mà cả với những người sành thưởng thức trà.
Về
giống chè Shan Hà Giang có thể chia thành 2 dạng chính đó là chè shan
lá nhỏ, tiêu biểu chè Lũng Phìn với đặc điểm dạng tán hình mâm xôi hoặc
dạng nến. Chè tán dạng mâm xôi là chè shan lá nhỏ chiếm tỷ lệ lớn hơn
chè tán dạng nến chè shan lá to. Dài búp biến động từ 2,3-4,5 cm, trọng
lượng búp biến động từ 0,4-1,09g/búp, thuận lợi cho chế biến chè xanh
có ngoại hình đẹp. Hàm lượng tanin biến động từ 32,25- 37,32%, chất hoà
tan 43,24-47,82%, đường khử 2,00-2,95%, cafein 3,05-3,45%, nhất là chất
lượng thử nếm cảm quan điểm cao từ 16-18,2 điểm trên nhiều mẫu chè.
Dạng
chè shan thứ 2 với tiêu biểu vùng chè cổ Bó Đướt, Thượng Sơn- Vị Xuyên.
Loại chè này đặc biệt nhiều về mức độ lông tuyết ở cả búp lá 1 và một
phần lá 2. Trọng lượng búp chè từ 0,92-1,02g, năng suất
1600-1850g/cây/lứa hái. Về thành phần sinh hoá cho thấy tanin biến động
từ 27,96-32,98%, chất hoà tan từ 35,81- 40,56%, đường khử từ
1,22-1,90%, cafein từ 2,85-3,00%...
Ngoài
những chỉ tiêu sinh hoá ở mức rất có lợi cho chế biến chè chất lượng
cao, chè shan Hà Giang là nguồn nguyên liệu sạch. Bởi vì, cho đến tận
bây giờ, ở các vùng chè shan lâu đời của Hà Giang, đồng bào vẫn không
sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật mà chủ yếu là khai thác tự
nhiên. Người ta thường đốn chè vào vụ Đông, đồng thời với việc phát cỏ,
vun gốc… Sang xuân, vào thời điểm cuối tháng 3, đầu tháng 4, người ta
bắt đầu thu hái chè vụ đầu tiên (đây là thời điểm chè cho chất lượng
cao nhất). Tiếp tục thu háI vụ chè thứ 2 vào tháng 5 và tháng 6 (là vụ
có năng suất cao nhất trong năm). Vụ 3 vào tháng 8 và vụ 4 vào tháng
10, tháng 11. Vì vậy, có thể khẳng định chè shan Hà Giang là vùng
nguyên liệu có giá trịđể sản xuất chè an toàn chất lượng cao, đáp ứng
yêu cầu của thị trường, phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp bền
vững hiện nay.
Ngoài
những vùng chè lâu đời trên, Hà Giang còn trồng nhiều chè ở vùng thấp.
Nhận thấy giá trị của cây chè shan vùng cao, nhiều lâm trường đã lấy
hạt chè shan vùng cao xuống trồng tại các vùng thấp như Hùng An, Việt
Lâm… tạo thành những vùng chè shan tập trung cho chất lượng tốt, năng
suất cao.
Với
những nỗ lực giữ gìn và chăm sóc tốt vùng chè shan cổ thụ, đồng thời
tiếp tục mở rộng diện tích chè shan trên những vùng đất có điều kiện
khí hậu, đất đai phù hợp. Riêng năm nay, tỉnh ta đã trồng mới 778 ha.
Đến nay, tổng diện tích chè của Hà Giang lên tới 15.323 ha với tổng sản
lượng chè búp tươi năm 2007 lên tới 41.731 tấn, trong đó chè xuất khẩu
các loại đạt 3.787 tấn.
Chè
shan Hà Giang là nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất chè chất lượng cao
đã được các nhà sản xuất trong nước và thế giới công nhận. Trong thời
gian tới, để nâng cao hơn nữa chất lượng cho thương hiệu chè shan tuyết
Hà Giang thì công nghệ chế biến phải được đặt lên hàng đầu. Với nguồn
nguyên liệu tuyệt vời như chè shan Hà Giang cộng với công nghệ chế biến
hiện đại đảm bảo sẽ cho ra đời những sản phẩm chè không thua kém bất cứ
danh trà nào trên thế giới./.