Ban Quản Trị

Thứ sáu, 12/11/2010, 14:02 GMT+7
NGHỊ QUYẾT Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
NGHI QUYET Dai hoi dai..
NGHI QUYET Dai hoi dai..

(Website NVHG) - Phương hướng, mục tiêu tổng quát đến năm 2015 là: Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tập trung mọi nguồn lực, với quyết tâm chính trị cao để tạo sự chuyển biến tích cực về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp, xây dựng– nông, lâm nghiệp; phấn đấu giá trị tăng thêm của các nhóm ngành, thu nhập bình quân đầu người, thu ngân sách trên địa bàn đều tăng gấp đôi so với năm 2010; đảm bảo chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tình hình chính trị, xã hội luôn ổn định, tạo môi trường tốt nhất cho việc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt. Tạo tiền đề vững chắc, tạo bước phát triển nhanh và bền vững, nhanh chóng thu hẹp chênh lệch về trình độ phát triển với các tỉnh trong khu vực và sớm thoát khỏi tỉnh đặc biệt khó khăn, kém phát triển.

 

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XV họp từ ngày 02/10/2010 đến ngày 05/10/2010 tại Hội trường Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. 

                                               QUYẾT NGHỊ
I. Nhất trí thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV trình Đại hội.


Về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005 - 2010), Đại hội thống nhất nhận định:

Trong nhiệm kỳ qua, mặc dù gặp không ít những khó khăn do thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; ảnh hưởng của lạm phát và suy giảm kinh tế thế giới; phải tập trung nguồn vốn lớn để giải quyết nợ đọng xây dựng cơ bản của những năm trước; các thế lực thù địch luôn lợi dụng các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”,vv...Nhưng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, quyết tâm đổi mới, nỗ lực khắc phục khó khăn; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện với sự đồng thuận, quyết tâm chính trị cao, quyết liệt nên đã giành được những thành tựu to lớn và tương đối toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, giá trị tăng thêm của nền kinh tế đạt tốc độ tăng bình quân 
năm 12,7%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng các ngành nông - lâm nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người đạt 7,5 triệu đồng/người/năm, tăng 4,3 triệu đồng so với năm 2005. Thu ngân sách trên địa bàn tăng mạnh, đạt trên 600 tỷ đồng (tăng gần gấp 3 lần so với năm 2005, vượt trên 200 tỷ đồng so với Nghị quyết). An ninh lương thực từng bước được đảm bảo, bình quân lương thực đầu người đạt 460 kg (tăng 90 kg so với NQ, tăng 95 kg so với năm 2005). Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) đạt 1.300 tỷ đồng, gấp 3,5 lần so với năm 2005. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ thị trường xã hội đạt 2.250 tỷ đồng (gấp hơn 2 lần so với năm 2005).
Các lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ mới, trình độ dân trí, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 15,8% (giảm 35,3% so với năm 2005). Quốc phòng - an ninh được bảo đảm, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới Quốc gia, giữ vững ổn định an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có sự đổi mới, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền các cấp; khối đại đoàn kết các dân tộc trong tỉnh được tăng cường, củng cố; nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Thành tựu nổi bật là: Đã thanh toán xong nợ cũ xây dựng cơ bản từ 2005 trở về trước; duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ở mức độ cao. Đổi mới mạnh mẽ và đem lại hiệu quả cao trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, như: Phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng rừng kinh tế, trồng cây cao su, cây cải dầu,vv... có tác động tích cực làm thay đổi mô hình, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Phát huy nội lực, khai thác, quản lý và sử dụng lồng ghép có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn của Trung ương để xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo ra diện mạo mới từ nông thôn đến thành thị.Bước đầu đã thu hút được các thành phần kinh tế đầu tư vào một số lĩnh vực thếmạnh của tỉnh như: Thuỷ điện,khoáng sản, dịch vụ, du lịch. Hoàn thành phân giới cắm mốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, đảm bảo biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Công tác cán bộ có sự đổi mới và chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều mặt hạn chế; kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; mức thu nhập bình quân đầu người/năm còn thấp so với bình quân chung của cả nước và khu vực; trình độ phát triển so với một số tỉnh trong khu vực còn có những khoảng cách đáng kể; tỉnh có 6 huyện/62 huyện đặc biệt khó khăn, nghèo nhất cả nước, vv...Vì vậy, “Hà Giang vẫn là tỉnh nghèo, chưa thoát ra khỏi tình trạng của một tỉnh đặc biệt khó khăn”.

Về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu 5 năm 2011 - 2015

Chủ đề Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV là: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng; đoàn kết; đổi mới; phấn đấu thoát khỏi tỉnh đặc biệt khó khăn, kém phát triển”.

Phương hướng, mục tiêu tổng quát đến năm 2015 là: Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tập trung mọi nguồn lực, với quyết tâm chính trị cao để tạo sự chuyển biến tích cực về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp, xây dựng– nông, lâm nghiệp; phấn đấu giá trị tăng thêm của các nhóm ngành, thu nhập bình quân đầu người, thu ngân sách trên địa bàn đều tăng gấp đôi so với năm 2010; đảm bảo chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tình hình chính trị, xã hội luôn ổn định, tạo môi trường tốt nhất cho việc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt. Tạo tiền đề vững chắc, tạo bước phát triển nhanh và bền vững, nhanh chóng thu hẹp chênh lệch về trình độ phát triển với các tỉnh trong khu vực và sớm thoát khỏi tỉnh đặc biệt khó khăn, kém phát triển.

BỐN ĐỔI MỚI
1. Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp uỷ Đảng và chính quyền; phương thức đoàn kết, tập hợp quần chúng của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân ở các cấp;
2. Đổi mới về phong cách, lề lối làm việc của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội; của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong thi hành công vụ theo hướng sâu sát, nhanh chóng, chính xác, kịp thời; chống quan liêu, hành chính, tiêu cực, phiền hà, tham nhũng, lãng phí;

3. Đổi mới về cơ chế, chính sách; về môi trường đầu tư phát triển;

4. Đổi mới về cơ cấu của từng ngành kinh tế; phương thức hoạt động của từng ngành văn hoá – xã hội.

TÁM ĐỘT PHÁ:
1. Đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông;
2. Đột phá về sản xuất hàng hoá tập trung, gắn với chế biến;

3. Đột phá về phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả cao của tỉnh;

4. Đột phá về phát triển thị trường và đẩy mạnh xây dựng hạ tầng cơ sở cho dịch vụ, du lịch;

5. Đột phá về xây dựng nông thôn mới, gắn với quy tụ dân cư và xây dựng, phát triển đô thị;

6. Đột phá về đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống;

7. Đột phá về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm;

8. Đột phá về xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các tổ chức Đảng; về tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên, cấp uỷ viên;

MƯỜI LĂM CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM:
1. Chương trình sản xuất lúa, ngô hàng hoá;
2. Chương trình trồng rừng kinh tế; bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn; bảo vệ và phát triển rừng cảnh quan, núi đá, xây dựng hồ treo chứa nước sinh hoạt ở các huyện vùng cao;

3. Chương trình trồng cây cao su;

4. Chương trình trồng cây cải dầu ở 4 huyện vùng cao núi đá;

5. Chương trình chăn nuôi đại gia súc gắn với thâm canh;

6. Chương trình phát triển công nghiệp thuỷ điện, khai khoáng và chế biến;

7. Chương trình xây dựng và phát triển cửa khẩu biên giới; kinh tế biên mậu và hội nhập kinh tế Quốc tế theo lộ trình của quốc gia;

8. Chương trình phát triển văn hoá gắn với du lịch sinh thái, văn hoá, lịch sử, địa chất, tâm linh, vv...;

9. Chương trình quy tụ dân cư sống rải rác ở các sườn núi cao và vùng nguy cơ sạt lở, lũ quét về sống tập trung tại thôn bản;

10. Chương trình xây dựng nông thôn mới và xây dựng, phát triển các đô thị;

11. Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững;

12. Chương trình đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo; y tế - kế hoạch hoá gia đình;

13. Chương trình đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn;

14. Chương trình nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ chuyên môn và quản lý;

15. Chương trình xây dựng khu vực phòng thủ quốc phòng – an ninh vững chắc.

MƯỜI CHÍN CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
1. Giá trị tăng thêm của nền kinh tế đạt tốc độ tăng bình quân 14,6%, trong đó:+ Các ngành dịch vụ tăng17,5%;+ Công nghiệp - xây dựng tăng 19,5%;+ Nông - lâm nghiệp tăng5,5%.
2. Cơ cấu kinh tế:
+ Dịch vụ chiếm 39,5%;+ Công nghiệp - xây dựng chiếm 34,1%;+ Nông - lâm nghiệp chiếm26,4%.
3. Thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng trở lên;

4. Huy động vốn đầu tư phát triển đạt 20.000 tỷ đồng; thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.300 tỷ đồng trở lên;

5. Giá trị hàng hóa xuất, nhập khẩu qua cửa khẩu đạt 700 triệu USD;

6. Tổng sản lượng lương thực đạt 40 vạn tấn;

7. Độ che phủ rừng đạt 60%;

8. Tỷ lệ huy động: Trẻ 0 - 2 tuổi đi nhà trẻ đạt 50%; trẻ 3 - 5 tuổi đi mẫu giáo đạt 98%; trẻ 6 - 14 tuổi đến trường đạt trên 98%.

9. Hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,24%;

10. Tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá trên 60%; thôn, bản đạt tiêu chuẩn văn hoá 70%;

11. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 45%; giải quyết việc làm cho 75.000 người;

12. Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm trên 5%;

13. Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 92%;

14. Tỷ lệ phủ sóng phát thanh 98%; tỷ lệ phủ sóng truyền hình 92%;

15. Đến năm 2015, có 20% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới; quy tụ trên 8.000 hộ dân sống rải rác trên các triền núi cao và vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét về sống tập trung tại các thôn, bản;

16. Đạt tỷ lệ 70 thuê bao điện thoại/100 dân;

17. Đến năm 2015, 100% số hộ thành thị và 70% số hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh;

18. Đảm bảo chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được giữ vững;

19. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kết nạp đảng viên mới mỗi năm 2.200 đảng viên trở lên; hàng năm số chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh đạt trên 90%; đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ đạt 99% trở lên.

SÁU NHIỆM VỤ CHỦ YẾU
1. Tạo bước phát triển mạnh, tích cực trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng năng suất, chất lượng, hiệu quả và bền vững
Tăng cường đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật để phát triển mạnh, đồng bộ và nâng cao chất lượng các hoạt động thương mại, dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có tác dụng thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển. Phấn đấu tăng trưởng nhóm ngành dịch vụ bình quân năm đạt 17,5%; tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ bán lẻ đạt 4.600 tỷ đồng; tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng tăng bình quân trên 20%/năm.

Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, xuất - nhập khẩu tại Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy, các chợ cửa khẩu và các cửa khẩu có điều kiện; phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các chợ đầu mối, chợ nông thôn, các khách sạn, nhà hàng, siêu thị.

Khuyến khích và tạo đột phá trong hoạt động du lịch. Xây dựng và phát triển các tua, tuyến, điểm, khu du lịch đã được quy hoạch, xây dựng thương hiệu, điểm nhấn trong hoạt động du lịch, các làng văn hoá dân tộc, sản phẩm văn hoá dân tộc đặc trưng.

Phát triển các ngành công nghiệp có thế mạnh của tỉnh. Hoàn thiện kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư lấp đầy các khu, cụm công nghiệp hiện có. Khuyến khích phát triển thủ công nghiệp và các ngành nghề mới, làng nghề truyền thống. Phấn đấu giá trị gia tăng ngành công nghiệp bình quân năm đạt trên 18%, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 (giá thực tế) đạt 2.000 tỷ đồng.

Tập trung đầu tư, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về lao động, đất đai, tạo bước phát triển vững chắc trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực. Đẩy mạnh thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, năng suất và hiệu quả kinh tế cao, gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu và thị trường tiêu thụ ổn định. Trồng 5.000 ha cây cải dầu; đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính ở các huyện vùng thấp và nơi có điều kiện ở vùng cao. Phấn đấu nâng hệ số sử dụng đất lên 2 lần, giá trị sản phẩm/1ha đất canh tác đạt 30 triệu đồng trở lên/năm.

Phát triển mạnh đàn gia súc, gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc gắn với thâm canh và chế biến; phấn đấu tốc độ tăng đàn trâu, bò đạt 6%/năm; đàn dê 10%/năm; đàn lợn 8%/năm. Khai thác tốt diện tích mặt nước để phát triển nuôi trồng thuỷ sản lên 2.000ha, đưa tỷ trọng chăn nuôi đạt 40%.

Tập trung trồng trên 55.000 ha rừng sản xuất và 10.000 ha cây cao su ở các huyện vùng thấp, tạo thành vùng nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến. Thực hiện có hiệu quả dự án bảo vệ và phát triển rừng ở 6 huyện vùng cao; nghiên cứu trồng rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn ở các huyện phía Bắc bằng các loại cây bản địa đa mục đích. Bảo vệ và quản lý nghiêm ngặt các khu vực rừng đầu nguồn nước.

Tập trung giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn. Ưu tiên đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng nông thôn, giải quyết cơ bản nước sinh hoạt cho các huyện vùng cao núi đá; quy tụ số hộ sống rải rác và trong vùng có nguy cơ cao về sạt lở, lũ quét. Lồng ghép và thực hiện có hiệu quả các dự án theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, các chương trình, dự án phát triển vùng dân tộc thiểu số, nông thôn miền núi và xây dựng nông thôn mới... Phấn đấu 20% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới, xây dựng thêm nhiều hồ chứa nước ở 4 huyện vùng cao và vùng có nguy cơ hạn hán.

2. Tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo vùng, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các vùng trong tỉnh, coi trọng phát triển vùng động lực

Tập trung phát triển vùng động lực, phấn đấu giá trị tăng thêm bình quân đạt 15 – 16% và đóng góp khoảng 75% giá trị gia tăng của nền kinh tế. Thực hiện có hiệu quả chương trình 30a ở 6 huyện vùng cao; cơ cấu lại vốn đầu tư, đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả vốn đầu tư và các tiềm năng, lợi thế ở từng vùng.
Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng các đô thị, cửa khẩu biên giới và khu dân cư tập trung, với phương châm: Phát triển đô thị gắn với phát triển dịch vụ và xây dựng nông thôn mới ở nơi có điều kiện. Quy hoạch, xây dựng thị trấn Đồng Văn, thị trấn Tam Sơn thành trung tâm, điểm du lịch của công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn.
3. Đi đôi với việc đẩy mạnh sản xuất, phát triển bền vững phải đẩy mạnh huy động giá trị gia tăng của nền kinh tế vào ngân sách, đảm bảo năm sau cao hơn năm trước

Thực hiện tốt công tác quản lý thu ngân sách. Phấn đấu thu ngân sách trên địa bàn năm 2015 đạt 1.300 tỷ đồng trở lên.

4. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, đảm bảo cho lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ mới, tích cực, đáp ứng cơ bản nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân

Tập trung đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo toàn diện ở tất cả các cấp học, ngành học. Quan tâm thực hiện tốt chính sách cử tuyển; công tác khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập nâng cao chất lượng nuôi, dạy và học ở các trường, lớp dân tộc nội trú. Hoàn thiện về cơ sở vật chất trường, lớp học, nhà lưu trú giáo viên; huy động cao nhất số trẻ trong độ tuổi đến trường. Phấn đấu có 20% số trường học đạt chuẩn Quốc gia, tỉnh được công nhận đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Nâng cấp các trường trung cấp chuyên nghiệp lên Cao đẳng.

Đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá và quản lý tốt các dịch vụ y, dược chất lượng cao. Đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống bệnh viện từ tuyến tỉnh đến huyện và khu vực, trạm y tế xã. Đa dạng các hình thức đào tạo cán bộ y tế, bảo đảm 100% trạm y tế xã có bác sỹ.

Tạo bước phát triển về chất đối với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đạt tỷ lệ hộ gia đình văn hoá trên 60%; làng bản văn hoá 70%. Đầu tư, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới, bảo đảm 100% xã có các thiết chế văn hóa, thể thao. Phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục, thể thao quần chúng và coi trọng phát triển thể thao thành tích cao. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thông tin đại chúng, báo chí, xuất bản; đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền, định hướng dư luận, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Chăm lo các gia đình và người có công, gia đình liệt sĩ, các thương bệnh binh và các đối tượng chính sách xã hội, vv... theo phương châm xã hội cùng chăm lo.

Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động; hình thành và phát triển thị trường lao động; phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45%, mỗi năm giải quyết việc làm cho 15 nghìn lao động, xuất khẩu 600 lao động. Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững, mỗi năm phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 5%.

5. Đảm bảo tình hình chính trị - xã hội ổn định; không có điểm nóng, không có khiếu kiện đông người; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; tăng cường công tác đối ngoại, đảm bảo hiệu quả, thiết thực

Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 08 (khoá IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xây dựng các Đảng bộ và lực lượng Quân sự, Công an, Biên phòng thật sự vững mạnh, chính quy, từng bước hiện đại đảm bảo đáp ứng và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới.

Nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng - an ninh, giáo dục pháp luật; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Chủ động nắm chắc tình hình, duy trì chế độ sẵn sàng chiến đấu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, kịp thời đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hoà bình”, lợi dụng các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo gây mất ổn định chính trị - xã hội; chủ động thực hiện phương án phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội (Phấn đấu 100% thôn bản có phương án phòng chống tội phạm) đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện tốt phương châm phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc; Quan tâm đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu vực phòng thủ tỉnh và các huyện, thị.

Phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; thực hiện đối ngoại toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; củng cố, phát triển hợp tác, hữu nghị với các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt.

6. Tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng vai trò lãnh đạo trong tình hình nhiệm vụ mới.

Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương; đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình trong Đảng gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong của cán bộ, đảng viên. Thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ của các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở Đảng; thực hiện đồng bộ giữa quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ, bảo đảm hợp lý về cơ cấu, chất lượng và đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Phấn đấu 100% cán bộ lãnh đạo từ phó phòng trở lên ở cấp tỉnh và cấp huyện có trình độ chuyên môn đại học và sau đại học, chính trị cao cấp trở lên; cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn có trình độ chuyên môn, chính trị từ trung cấp trở lên; cấp thôn bản và tổ dân phố tốt nghiệp phổ thông trung học, có trình độ sơ cấp về chuyên môn và chính trị.

Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên mới. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành trong công tác dân vận.

Đổi mới hoạt động và nâng cao vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp; tăng cường giám sát; nâng cao chất lượng các kỳ họp, thực hiện chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp. Cải tiến, nâng cao hiệu quả công tác tiếp xúc cử tri.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền các cấp, quản lý theo pháp luật. Chỉ đạo, điều hành có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề khó khăn, vướng mắc ở cơ sở; các vấn đề bức xúc trong nhân dân; xây dựng phương án chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính, lộ trình cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phải được củng cố, kiện toàn về tổ chức, bộ máy; đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động; tăng cường thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội.

BẢY NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
1. Đảm bảo về nguồn lực tài chính cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
Khai thác tối đa và phát huy hiệu quả sử dụng các nguồn nội lực gắn với thực hiện tốt cơ chế thu hút đầu tư thông qua các chương trình, dự án; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Phấn đấu thực hiện vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2010 - 2015 đạt trên 20.000 tỷ đồng.

Tăng cường giới thiệu, quảng bá các tiềm năng thế mạnh của địa phương, đi đôi với đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại - du lịch; xây dựng các danh mục, các chương trình, dự án để kêu gọi, thu hút vốn đầu tư trong nước và các nguồn vốn ODA, FDI... Nghiên cứu áp dụng các hình thức đầu tư BOT, BT, BTO, vv...

Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế. Vận dụng linh hoạt các cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư; đa dạng các hình thức đầu tư nhằm huy động tối đa các nguồn vốn trong dân cư, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào xây dựng mới hoặc mở rộng quy mô, nâng cao công suất, đổi mới thiết bị, dây chuyền công nghệ trong các nhà máy, cơ sở sản xuất - kinh doanh hiện có.

Đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia đầu tư, hỗ trợ, giúp đỡ phát triển công tác y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, thể dục, thể thao, xoá đói giảm nghèo, thực hiện chính sách xã hội, vv... ở những nơi có điều kiện.

Khuyến khích phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn, tạo thị trường vốn phát triển bền vững. Phấn đấu đến năm 2015 tổng dư nợ đạt trên 10 nghìn tỷ đồng.

2. Đảm bảo về số lượng và nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển

Đa dạng hoá các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực tại địa phương, gắn với sắp xếp, bố trí, phân công và đào tạo lại cán bộ cho phù hợp. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo theo địa chỉ với thu hút tuyển dụng để phát triển đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ, bảo đảm cả về số lượng, chất lượng và có tỷ lệ phù hợp ở các ngành, lĩnh vực, địa phương. Ưu tiên đầu tư từ ngân sách cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động.

Làm tốt các khâu trong công tác cán bộ; coi trọng sử dụng cán bộ có đức, có tài, có năng lực thực tiễn tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Hà Giang.

Coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngay từ trong các trường phổ thông, trên cơ sở phát huy hiệu quả đào tạo của trường chuyên và các trường chuyên nghiệp.

3. Đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sản xuất và đời sống

Thu thập, phổ biến sâu rộng các thông tin về khoa học, kỹ thuật, công nghệ đi đôi với tăng cường nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, đời sống. Tiếp tục tập trung nghiên cứu các loại cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao và phù hợp với từng vùng trong tỉnh.

Khuyến khích mở rộng mối quan hệ, liên kết chặt chẽ với các nhà khoa học, các đơn vị nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước để đẩy nhanh việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ trên địa bàn tỉnh.

4. Thực hiện nghiêm túc và quyết liệt trong cải cách hành chính, trước hết là cải cách về thủ tục hành chính

Đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Tiếp tục thực hiện phân cấp mạnh về quản lý nhà nước, đảm bảo thống nhất, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả. Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện phân cấp, nâng cao tính chủ động, năng động, sáng tạo và dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cơ sở.

Đảm bảo sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ. Đổi mới căn bản tác phong, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nhà nước, đảm bảo hoạt động theo luật. Nâng cao vai trò, trách nhiệmcủa người đứng đầu.

Đẩy mạnh ứng dụng và liên kết công nghệ thông tin trong các cơ quan, đơn vị. Xây dựng “Văn phòng điện tử”; “Một cửa điện tử” để hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả nền hành chính công.

5. Chủ động nghiên cứu xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách một cách kịp thời và hiệu quả

Bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nhất là chính sách thu hút phát triển khu kinh tế cửa khẩu, các khu, cụm công nghiệp, các nhà máy chế biến sâu các loại sản phẩm hàng hoá; chính sách đặc thù phát triển vùng cao và vùng động lực; chính sách phát triển nguồn nhân lực, thu hút nhân tài, chuyên gia, cán bộ khoa học - công nghệ, bác sỹ, vv...

Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách địa phương để đào tạo nghề cho người lao động, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành.

Ban hành chính sách hỗ trợ chuyển đổi lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác; chính sách ưu đãi, hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ mới, tiên tiến; chính sách thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, các sản phẩm phục vụ phát triển dịch vụ, du lịch; bổ sung, hoàn thiện các chính sách khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, vv.... Thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ của tỉnh.

6. Phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền các cấp

Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ. Thường xuyên giữ vững và thực hiện tốt cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhất là công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, giám sát của các cơ quan dân cử. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các trường hợp cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước có vi phạm, thoái hoá biến chất, cơ hội, có quan điểm và hành động trái với chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Chú trọng công tác xây dựng mô hình, điển hình và tổng kết thực tiễn để có chủ trương, giải pháp kịp thời giải quyết tốt các vấn đề phát sinh từ thực tiễn; nhân rộng những nhân tố tích cực, những cách làm hay có hiệu quả cao.

7. Tăng cường và đổi mới một cách căn bản về phương pháp, hình thức giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền vận động, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị

Phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, lý tưởng cách mạng; đổi mới công tác tuyên truyền vận động; phát huy tính sáng tạo của tổ chức và cá nhân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhất là “Làm theo” gắn với nhiệm vụ cụ thể.

Thường xuyên phát động các phong trào thi đua yêu nước; tổ chức học tập, nhân rộng các mô hình, điển hình tiến tiến, tấm gương người tốt, việc tốt. Thực hiện khen thưởng, động viên kịp thời, đúng người, đúng việc.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan thông tin, tuyên truyền, bảo đảm chính xác, kịp thời và định hướng dư luận xã hội để giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc trong nhân dân.

Tăng cường công tác dân vận của cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh công tác dân vận của chính quyền các cấp, nhất là ở cấp cơ sở. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phải thực sự gắn bó với cơ sở, thực sự là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và chính quyền các cấp; gắn hoạt động với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và nhiệm vụ chính trị của địa phương.

II. Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV. Từ kinh nghiệm của khoá XIV, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV cần tiếp tục phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực và hiệu quả công tác trong nhiệm kỳ 2010 – 2015.

III. Thông qua Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV có trách nhiệm tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để bổ sung, hoàn thiện và báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

IV. Thông qua kết quả bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV gồm 55 đồng chí và đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, gồm 16 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ, báo cáo Trung ương để quyết định chuẩn y theo quy định.

V. Giao cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xây dựng chương trình làm việc, kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực tiễn cuộc sống.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng trong thời kỳ đổi mới.

Khẩu hiệu hành động: “Quyết tâm không cam chịu đói nghèo; biến khó khăn thành cơ hội phát triển; vì Hà Giang phát triển, hãy làm việc nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn”./.

 Các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XV (nhiệm kỳ 2010 - 2015) Đảng bộ tỉnh. Ảnh: ĐỨC DŨNG
 
 Các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV (nhiệm kỳ 2010 - 2015). Ảnh: KHÁNH TOÀN
 
 Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Ảnh: MINH TÂM
 

 Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy khóa XV (nhiệm kỳ 2010 - 2015). Ảnh: HỮU THỤY

Sở ngoại vụ Hà Giang
Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang (tên cũ là Sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà giang) được thành lập ngày 01/01/2004 trên cơ sở kiện toàn Ban đối ngoại (1993). Căn cứ theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1119/QĐ-UBND ngày 16/4/2008 của Uỷ Ban nhân dân tỉnh Hà Giang, sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà Giang đổi tên thành Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang...
TIN NỔI BẬT
Bạn đến từ khu vực nào?
Hà Nội
Huế
Đà nẵng
TP. Hồ Chí Minh
Khu vực khác

Lượt truy cập: 3290159
Truy cập/ngày: 519
Online: 6
Thành viên: 0
Khách: 6


Sở Ngoại Vụ Tỉnh Hà Giang
Trưởng ban chỉ đạo: Ma Ngọc Tiến - Giám đốc Sở

Địa chỉ: Đường Trần Quốc Toản - Phường Nguyễn Trãi - Thị xã Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Điện thoại: (+84) 0219 3860215; (+84) 0219 3866533; (+84) 0219 3862852 - Fax: (+84) 0219 3866942 - Email: ngoaivuhagiang@vnn.vn

  Developed by AZNET