Ban Quản Trị

Thứ tư, 01/10/2008, 16:09 GMT+7
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ THÁI LAN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN
THONG TIN CO BAN VE THAI..
THONG TIN CO BAN VE THAI..

Theo sử sách Thái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng núi An-Tai, Đông Bắc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cư dần xuống vùng đất hiện nay là Thái Lan. Vào năm 1238, người Thái thành lập Vương quốc tại Sukhothai (hiện ở miền Bắc Thái Lan) gọi là Vương quốc Phật giáo Sukhothai, năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya (phía Bắc Băng-cốc 70 km) gọi là Vương quốc Ayuthaya. Hơn 400 năm người Thái tiến hành chiến tranh liên miên với Miến Điện và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt. Năm 1767, một tướng người Thái gốc Hoa, Taksin, đứng lên chống quân Miến Điện giành lại độc lập và rời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phaya, đối diện với Bangkok. Vua Rama I (1782) lên ngôi và lấy Băng-cốc (Thành phố của các thiên thần) làm Thủ đô. Thời đại này gọi là Rattanakosin.

VƯƠNG QUỐC THÁI LAN
(Kingdom of Thailand)



I/ CÁC VẤN ĐỀ CHUNG:

- Tên nước: Vương quốc Thái Lan
- Thủ đô: Băng-cốc (từ năm 1782)
- Diện tích: 513.115 km2 (lớn thứ 49 thế giới), gồm 76 tỉnh.
- Vị trí địa lý: Nằm ở Đông Nam Á. Phía Đông giáp Lào và Cam-pu-chia; phía Nam giáp Vịnh Thái Lan và Malaysia; phía Tây giáp biển Andaman và Mianma.
- Dân số: 63,04 triệu người (2007) trong đó người Thái chiếm 75%, người Hoa 14%, các dân tộc khác 11%.
- Tôn giáo: Đạo Phật được coi là quốc đạo, chiếm khoảng 95% dân số, ngoài ra có Đạo Hồi (4%), Thiên chúa giáo và các đạo khác (1%).
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ chính là tiếng Thái. Tiếng Anh được dùng phổ biến.
- Ngày quốc khánh: 5/12 (là ngày sinh nhật Vua Bhumibol Adulyadej)
- Tiền tệ: Đồng Baht (THB), tỷ lệ hiện nay là khoảng 31-33 baht/USD 
- Lãnh đạo nhà nước hiện nay:
+ Nhà Vua: Phu-mi-phôn A-đun-da-đệt (Bhumibol Adulyadej), lên ngôi ngày 9/6/1946 đến nay.
+ Thủ tướng: Somchai Wongsawat (nhậm chức ngày 18/09/2008, kiêm Bộ trưởng Quốc phòng).    
+ Chủ tịch Hạ viện: Chài Chít-chóp (Chai Chidchob) (nhậm chức ngày 12/5/2008, thay ông Yongyuth Tiyapairat, từ chức do phải hầu tòa vì bị cáo buộc gian lận phiếu bầu)
+ Chủ tịch Thượng viện: Pra-sóp-sục Bun-đệt (Prasobsuk Boondech) (nhậm chức ngày 14/3/2008)   

II/ KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI:

- Theo sử sách Thái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng núi An-Tai, Đông Bắc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cư dần xuống vùng đất hiện nay là Thái Lan. Vào năm 1238, người Thái thành lập Vương quốc tại Sukhothai (hiện ở miền Bắc Thái Lan) gọi là Vương quốc Phật giáo Sukhothai, năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya (phía Bắc Băng-cốc 70 km) gọi là Vương quốc Ayuthaya. Hơn 400 năm người Thái tiến hành chiến tranh liên miên với Miến Điện và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt. Năm 1767, một tướng người Thái gốc Hoa, Taksin, đứng lên chống quân Miến Điện giành lại độc lập và rời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phaya, đối diện với Bangkok. Vua Rama I (1782) lên ngôi và lấy Băng-cốc (Thành phố của các thiên thần) làm Thủ đô. Thời đại này gọi là Rattanakosin.

- Trước năm 1932, Thái Lan theo chế độ Quân chủ chuyên chế. Sau cuộc cách mạng tư sản năm 1932 do một nhóm sĩ quan trẻ lãnh đạo, Thái Lan chuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ Quân chủ lập hiến. Ngày 10/12/1932 Vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Thái Lan. Trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ 2, Thái Lan là một đồng minh của Nhật nhưng cùng lúc vẫn tồn tại một phong trào chống Nhật gọi là Seri Thai. Sau chiến tranh, Thái Lan trở thành đồng minh của Mỹ. Hơn 70 năm qua Thái Lan đã thay đổi 17 hiến pháp, nhưng Hiến pháp 1932 vẫn được coi là cơ sở. Hiến pháp gần đây nhất (thứ 18) được thông qua với cuộc trưng cầu dân ý ngày 19/8/2007, cùng với tổng tuyển cử ngày 23/12/2007, chính phủ dân sự mới của Thái Lan đã được thành lập vào ngày 06/02/2008.

III/ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ:

1. Thể chế nhà nước: quân chủ lập hiến.

2. Cơ cấu các cơ quan quyền lực:

- Nguyên thủ quốc gia là Nhà Vua: Được coi là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Về danh nghĩa Nhà Vua là người đứng đầu nhà nước, Tổng Tư lệnh quân đội và là người bảo trợ Phật giáo.

- Quốc hội: Theo Hiến pháp ngày 24/8/2007, Quốc hội Thái Lan là Quốc hội lưỡng viện. Hạ viện (cơ quan lập pháp) gồm 480 ghế và Thượng viện gồm 150 ghế.

- Chính phủ: bao gồm 36 thành viên với 6 Phó Thủ tướng, 23 Bộ trưởng và 13 Thứ trưởng. Ngoài ra còn có một số Ury ban của Chính phủ được lập ra để phối hợp thực hiện các chính sách chung.

IV/ KINH TẾ:

- Thái Lan hiện là một nước công nghiệp mới (trước vốn là nước nông nghiệp truyền thống). Bắt đầu từ năm 1960 Thái Lan thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội lần thứ nhất và đến nay là Kế hoạch 9 (2002- 2006). Những năm 1970 Thái thực hiện chính sách "hướng xuất khẩu", ASEAN, Mỹ, Nhật, EC là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan. Ngành công nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai trò của nông nghiệp giảm dần. Ngành du lịch cũng đóng vai trò tích cực, đưa lại thu nhập khoảng 4 tỷ baht/ năm. Từ năm 2000 đến nay, công nghiệp du lịch chiếm 7,7% GDP, tạo công ăn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho khoảng 3,3 triệu người.

- Từ 1985 – 1996 kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng cao trung bình gần 9% một năm. Nhưng đến năm 1996 tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 5,9% và sau đó là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 7/1997 làm cho kinh tế Thái Lan rơi vào tình trạng khó khăn trầm trọng, Chính phủ buộc phải thả nổi đồng Bạt: Tỷ giá đồng bạt tháng 1/1998 là 56 Bạt = 1USD (trước là 25,3); mức tăng GDP năm 98 là -10,5%; nợ nước ngoài khoảng 87 tỷ USD; các ngành sản xuất mũi nhọn như công nghiệp ô tô, dệt, điện tử suy giảm nghiêm trọng; thất nghiệp gia tăng, tính đến tháng 3/1998 đã có tới 2,8 triệu người thất nghiệp, chiếm 8,8% lực lượng lao động.

Kể từ năm 1998, kinh tế Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. tăng trưởng đạt 4,2-4,4% vào năm 2000, phần lớn dựa vào xuất khẩu (tăng 20% năm 2000). Năm 2001, mức tăng trưởng bị giảm xuống còn 2,2% do ảnh hưởng của sự sụt giảm của kinh tế toàn cầu. Nhưng sau đó, kinh tế Thái Lan tăng trưởng mạnh dưới thời Thủ tướng Thaksin Shinawatra với một số dự án lớn. từ 2002 - 2004, tăng trưởng đạt 5-7% một năm.

- Năm 2006 tốc độ tăng trưởng kinh tế Thái Lan là 5,1%, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 150 tỷ USD. Các đối tác chính là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Xinh-ga-po….

- Tuy sự bất ổn chính trị gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của Thái Lan tuy nhiên các yếu tố cơ bản của nền kinh tế vấn vững. Xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2007 tăng 18,27% đạt 45,7 tỷ USD, du lịch vẫn phát triển, số lượng khách trong tháng 4 đạt 1,1 triệu người so với cùng kỳ năm ngoái; dự trữ ngoại tệ tính đến tháng 4/2007 đạt 71,1 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2007, mức tăng trưởng khoảng 4-4,5% nhưng đã tăng vọt lên 5,7% trong quý 4 năm 2007 khiến mức tăng trưởng của cả năm là 4,7%. Thặng dư thương mại năm 2007 đạt 1,2 tỷ USD. Đồng Bạt đạt mức giá cao nhất trong 10 năm qua so với đồng USD (32 bạt = 1USD)

- Dự báo tình hình kinh tế Thái Lan năm 2008 sẽ khả quan hơn. Tăng trưởng kinh tế dự đoán sẽ đạt mức 4,5 - 5,5%. Xuất khẩu tháng 1/2008 tăng 33% so với cùng ký năm 2007 và đạt 13,96 tỷ USD, nhập khẩu tăng 49% và đạt 14,61 tỷ USD.

V/ ĐỐI NGOẠI:

- Chính sách đối ngoại của Chính phủ Thái Lan nhấn mạnh việc coi trọng vai trò của Thái Lan trên trường quốc tế vì lợi ích của Thái Lan và người dân Thái, đặc biệt là khu vực tư nhân; coi trọng quan hệ với các nước láng giềng trong đó sẽ cân nhắc về hình thức và lĩnh vực hợp tác phù hợp, có nước sẽ nhấn mạnh về chính trị hoặc kinh tế, có nước sẽ nhấn về giáo dục hoặc nông nghiệp, y tế…  Trong giai đoạn toàn cầu hóa, Thái Lan tiếp tục chính sách ngoại giao phục vụ kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư, đẩy mạnh tìm kiếm các đối tác thương mại nhằm mở rộng thị trường, tăng giá trị hàng hóa của Thái Lan, tạo cơ hội về thương mại cho khu vực tư nhân Thái Lan. Về tự do hóa thương mại, Thái Lan sẽ tăng cường đàm phán song phương về thành lập khu vực tự do thương mại (FTA) với các nước trên cơ sở quan hệ đối tác, bình đẳng và công bằng, đồng thời tăng cường quan hệ thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO.

- Sau khi lên nhậm chức, Thủ tướng Samak đã thăm các nước láng giềng ASEAN; Lào (29/02), Campuchia (03/3) và Mianma (14/3), dự định thăm các nước ASEAN khác trong thời gian tới; dự kiến tham dự Hội nghị Mê Kông mở rộng (GMS) tại Viêng chăn (3/2008).

VI/ QUAN HỆ VIỆT NAM-THÁI LAN:

- Việt Nam và Thái Lan thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 6/8/1976. Tháng 9/1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm chính thức Thái Lan. Năm 2006 hai nước đã tiến hành nhiều hoạt động kỷ niệm 30 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao.

- Từ năm 1991 đến nay, quan hệ hai nước dần được cải thiện và phát triển mạnh, nhất là sau khi Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN. Hai bên đã trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao. Về phía ta có đoàn: Tổng Bí thư Đỗ Mười (10/1993); Chủ tịch nước Trần Đức Lương (10/1998); Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (3/2000), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (9/1991 và 7/1992), Thủ tướng Phan Văn Khải (5/2000), Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (9/1996), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (9/2003), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (12/2006). Về phía Thái Lan có đoàn: Các Thủ tướng Anand thăm (1/1992), Chuan Leekpai (3/1994), Banharn (10/1995), Chavalit (3/1997); Chủ tịch Quốc hội Thái Lan (2/1996); Thủ tướng Chuan Leekpai dự Hội nghị cấp cao ASEAN 6 tại Hà Nội (12/1998); Phó Thủ tướng Bhichai Rattakul (11/1999), Thủ tướng Thaksin Shinawatra (24-25/4/2001). Ngoại trưởng Thái Surin thăm chính thức (2/1998) và sang dự kỳ họp thứ 6 UBHH hai nước (21-13/6/1999); Ngoại trưởng Thái Surakiart Sathirathai thăm chính thức (07/3/2001). Đặc biệt có các chuyến thăm của Hoàng gia Thái như: Thái tử  Maha Vajiralongkorn (11/1992, 9/1997, 12/2007, 01/2008 và tháng 5/2008) và Công chúa Sirindhorn (2/1993, 4/2000); Công chúa Chulabhond (11/1998, 5/1999, 6/2000,  11/2001, 2/2003 và tháng 12/2003), Chủ tịch Hội đồng Cơ mật Hoàng gia (4/2002). Thủ tướng Surayud Chulanont đã thăm chính thức Việt Nam sau khi nhậm chức (26/10/2006), dự Hội nghị cấp cao APEC 14 (18-19/11/2006). Thủ tướng Samak thăm chính thức Việt Nam (24/3/2008). Ngoài ra hai bên cũng đã có nhiều cuộc trao đổi đoàn giữa các Bộ, ngành và địa phương.

- Đáng chú ý từ ngày 20-21/2/2004, Chính phủ hai nước đã tiến hành cuộc họp Nội các chung lần thứ nhất tại thành phố Đà Nẵng (Việt Nam) và tỉnh Na-khon Phan-nom (Thái Lan). Đoàn đại biểu Chính phủ ta do Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải dẫn đầu và Đoàn đại biểu Chính phủ Vương quốc Thái Lan do Thủ tướng Thạc-xỉn Xin-na-vắt dẫn đầu.

- Sau đảo chính ngày 19/9/2006, mức độ hoạt động trong quan hệ chính trị đối ngoại giữa hai nước có phần chững lại song quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực khác nhất là kinh tế thương mại và đầu tư vẫn phát triển tốt. Chính phủ của Thủ tướng Surayud vẫn chủ trương thúc đẩy quan hệ với ta.

- Sau khi Chính phủ mới của Thái Lan được thành lập, ta tiếp tục được duy trì và củng cố quan hệ với Thái Lan. Các lãnh đạo ta đã có điện chúc mừng kịp thời đến các lãnh đạo Thái Lan.

- Kim ngạch thương mại hai nước trong năm 2007 đạt gần 4,8 tỷ USD, tăng 21,3% so với năm 2006. Về đầu tư, đến nay, tổng số đầu tư của Thái Lan vào Việt Nam là 145 dự án,  tổng số vốn đăng ký là 1,6 tỷ USD (đứng thứ 12/77 các nước và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và thứ 3 trong ASEAN) và có chiều hướng tăng lên. Hợp tác du lịch được đẩy mạnh (năm 2006 có trên 120.000 khách Thái Lan sang Việt Nam và trên 200.000 khách Việt Nam sang Thái Lan). Hai bên tiếp tục duy trì cơ chế hợp tác xuất khẩu gạo, thỏa thuận thúc đẩy hợp tác khai thác tuyến đường hành lang Đông-Tây, cũng như hợp tác trong các khuôn khổ khu vực ASEAN, ACMECS, GMS…

- Thái Lan coi trọng và muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác với ta trong khuôn khổ hợp tác khu vực và diễn đàn quốc tế như ASEAN, ACMECS, WEC, GMS…Thái Lan ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO và ứng cử viên không thường trực hội đồng bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009.
Sở ngoại vụ Hà Giang ( theo BNG )
Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang (tên cũ là Sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà giang) được thành lập ngày 01/01/2004 trên cơ sở kiện toàn Ban đối ngoại (1993). Căn cứ theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1119/QĐ-UBND ngày 16/4/2008 của Uỷ Ban nhân dân tỉnh Hà Giang, sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà Giang đổi tên thành Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang...
TIN NỔI BẬT
Bạn đến từ khu vực nào?
Hà Nội
Huế
Đà nẵng
TP. Hồ Chí Minh
Khu vực khác

Lượt truy cập: 3626705
Truy cập/ngày: 2197
Online: 41
Thành viên: 0
Khách: 41


Sở Ngoại Vụ Tỉnh Hà Giang
Trưởng ban chỉ đạo: Ma Ngọc Tiến - Giám đốc Sở

Địa chỉ: Đường Trần Quốc Toản - Phường Nguyễn Trãi - Thị xã Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Điện thoại: (+84) 0219 3860215; (+84) 0219 3866533; (+84) 0219 3862852 - Fax: (+84) 0219 3866942 - Email: ngoaivuhagiang@vnn.vn

  Developed by AZNET