Ban Quản Trị

Thứ ba, 04/11/2008, 07:59 GMT+7
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM
THONG TIN CO BAN VE CONG..
THONG TIN CO BAN VE CONG..

Nước Pháp là nước có lịch sử lâu đời ở châu Âu. Tổ tiên của người Pháp là người Gô-loa 1000 năm trước công nguyên. Tới năm 59 trước công nguyên xứ Gôn bị đế chế La Mã chinh phục và đô hộ trong 400 năm và chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hoá La Mã. Thế kỷ 18, nền văn minh Pháp và tiếng Pháp phát triển rực rỡ ở châu Âu với kỷ nguyên ánh sáng và các nhà triết học nổi tiếng như Mông-tét-xki-ơ, Vôn-te, Đi-đơ-rô, Rút-xô…

I. Giới thiệu chung
- Tên nước : Cộng hoà Pháp  (Répubique française)
- Thủ đô : Paris
- Diện tích : 551.602 km2
- Dân số : 64.102.000  (2007), đứng thứ 2 trong EU - sau Đức (82 triệu). Tỷ lệ  sinh: 1,8%/năm. Tuổi thọ trung bình : 79
- Tôn giáo : Thiên chúa giáo, Hồi giáo...
- Quốc khánh : 14 tháng 7
- Các vị lãnh đạo hiện nay:
• Tổng thống: Ông Ni-cô-la Xác-kô-di (Nicolas Sarkozy)
• Chủ tịch Quốc hội: Ông Béc-na Ác-coi-ê (Bernard Accoyer)
• Chủ tịch Thượng viện : Cờ-rit-xơ-chi-ăng Pông-xơ-lê (Christian Poncelet)
• Thủ tướng: Ông Phơ-răng-xoa Phi-ông (François Fillon)
•  Bộ trưởng Ngoại giao và các vấn đề châu Âu:  Ông Bec-na Ku-sơ-ne (Bernard Kouchner)

II. Khái quát lịch sử
Nước Pháp là nước có lịch sử lâu đời ở châu Âu. Tổ tiên của người Pháp là người Gô-loa 1000 năm trước công nguyên. Tới năm 59 trước công nguyên xứ Gôn bị đế chế La Mã chinh phục và đô hộ trong 400 năm và chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hoá La Mã. Thế kỷ 18, nền văn minh Pháp và tiếng Pháp phát triển rực rỡ ở châu Âu với kỷ nguyên ánh sáng và các nhà triết học nổi tiếng như Mông-tét-xki-ơ, Vôn-te, Đi-đơ-rô, Rút-xô…

Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã đi vào lịch sử với Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền. Năm 1871, Công xã Paris - cuộc cách mạng vô sản đầu tiên - thắng lợi ở Pháp, nhưng chỉ tồn tại được một thời gian ngắn.

Nước Pháp đã trải qua nhiều nền cộng hoà, hiện nay là nền cộng hoà thứ 5.

III. Kinh tế
Pháp giàu quặng sắt, than, bô xít, potate, với 2/3 diện tích là đồng bằng và cao nguyên phì nhiêu thuận lợi cho canh tác, chăn nuôi. Pháp thiếu nhiên liệu, hầu như phải nhập toàn bộ nhu cầu về dầu lửa, khoảng 70-80 triệu tấn/năm. Ngoài khai thác than (16-18 triệu tấn/năm), Pháp đẩy mạnh sản xuất năng lượng nguyên tử, hiện đã chiếm 85% sản xuất điện của Pháp nhằm giảm bớt lệ thuộc vào sự biến động của thị trường nhiên liệu. Pháp là cường quốc kinh tế số 5 thế giới, đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu dịch vụ. Pháp có số lượng doanh nghiệp rất lớn, các doanh nghiệp có mặt trong số những doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong tất cả các lĩnh vực. Có truyền thống lâu đời trong phát minh công nghiệp, hệ thống giáo dục chát lượng cao, đội ngũ nghiên cứu trình độ cao ; đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu-phát triển ; năng suất lao động thuộc loại hàng đầu thế giới.

Thu nhập quốc dân (GDP) năm 2006: 1.792 tỷ $, đứng thứ 7 thế giới.
Tăng trưởng GDP trong năm 2007 đạt 1,9%.
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2007 : 8,1%, cao so với khối EU (7,2%).

Thương mại: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2006 đạt 988,2 tỷ eu-ro. Xuất khẩu đạt 481,2 tỷ eu-ro đứng thứ 4 thế giới, chiếm 5,3% thị trường thế giới, chủ yếu là xe hơi, thiết bị văn phòng và điện tử, thiết bị giao thông vận tải, hoá hữu cơ, sản phẩm dược, xây dựng sân bay, máy móc, nông sản chế biến, lương thực. Nhập khẩu ở mức 507 tỷ eu-ro, cũng đứng thứ 4 thế giới, sau Mỹ, Đức, Nhật. 63% trao đổi mậu dịch của Pháp là với các đối tác trong EU. 

Nông nghiệp: Pháp là nước đứng đầu châu Âu về sản xuất và xuất khẩu nông sản. Tuy chỉ có 6% lao động làm việc trong nông nghiệp, hàng năm Pháp xuất siêu khoảng 6,6 tỷ USD hàng nông sản gồm lúa mì, rượu nho, các sản phẩm thịt và sữa. Năng suất lao động nông nghiệp cao, công nghiệp chế biến thực phẩm rất phát triển chiếm 5% GDP.
 
Các ngành công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn:

- Chế tạo cơ khí, nhất là sản xuất ôtô (thứ 4 thế giới với các công ty như PSA Peugeot-Citroen, Renault: hai công ty này chiếm 24% thị phần Châu Âu).
- Hàng không (thứ 3 thế giới với các công ty lớn như EADS, Ariane space, Airbus, Dassault Aviation).
- Thiết bị giao thông vận tải (xe lửa cao tốc, tàu điện ngầm)
- Vật liệu xây dựng, thiết bị (Lafarge, Pechiney)
- Viễn thông (Alcatel, France Telecom, Bouygue)
- Công nghiệp dược (thứ 5 thế giới, Rhone-Poulenc).
- Mỹ phẩm cao cấp v.v...
- Dịch vụ của Pháp rất phát triển trong hệ thống tài chính và ngân hàng.
- Pháp còn là nước có nguồn lãi về du lịch đứng hàng đầu thế giới (thu hút 60 triệu khách/năm, năm 2002 có 78 triệu người thăm Pháp).
 
Về thu hút đầu tư nước ngoài, Pháp là địa chỉ hấp dẫn hàng đầu thế giới sau Mỹ, Anh và Trung Quốc, đứng thứ 2 Châu Âu, sau Anh, trước Ai-len, Đức, Ba-Lan và Hung-ga-ri. Đầu tư của châu Á vào Pháp còn hạn chế nhưng tăng nhanh. Pháp đứng thứ 2 trên thế giới về đầu tư ra nước ngoài, chỉ sau Mỹ và tập trung chủ yếu tại châu Âu

IV. Chính trị
1. Thể chế nhà nước

Cộng hoà. Nước Pháp theo chế độ Nghị viện - Tổng thống. Hiến pháp ngày 04/10/1958 liên tiếp được sửa đổi: Bầu cử Tổng thống theo phương thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp (1962), bổ sung mục mới liên quan đến trách nhiệm hình sự của các thành viên chính phủ (1993), thiết lập kỳ họp duy nhất ở Nghị viện và mở rộng quy mô trưng cầu dân ý (1995), rút ngắn nhiệm kỳ tổng thống từ 7 năm xuống 5 năm (2000).

Tổng thống do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm và có quyền lực lớn: cử Thủ tướng, chủ trì Hội đồng Bộ trưởng, giải tán Quốc hội và quyết định tổ chức trưng cầu dân ý về các vấn đề quan trọng... Theo hiến pháp, Tổng thống là lãnh đạo cao nhất về chính sách đối ngoại và quốc phòng. Thủ tướng đứng đầu Chính phủ, có trách nhiệm trước Quốc hội, giữ quyền xây dựng luật trong phạm vi của mình và đảm bảo thi hành pháp luật. 

Quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, gồm Quốc hội và Thượng viện. Quốc hội do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm (577 đại biểu). Thượng viện được bầu gián tiếp (do các uỷ viên hội đồng vùng, tỉnh và các nghị sĩ Quốc hội bầu ra), nhiệm kỳ 9 năm, 3 năm bầu lại 1/3. Với việc bỏ phiếu bất tín nhiệm, Quốc hội có thể bãi miễn chính phủ.

2. Các đảng phái chính trị

2.1. Các đảng phái cánh tả:

- Đảng Xã hội: thành lập 1905, đầu những năm 70 phát triển mạnh, có tổ chức sâu rộng trong xã hội. Tháng 4/2008, Đảng Xã hội công bố dự thảo “Tuyên bố nguyên tắc của đảng. Đây là bản tuyên bố các nguyên tắc lần thứ 5 của Đảng kể từ khi thành lập. Tuyên bố định nghĩa lại tôn chỉ, mục đích và các giá trị của đảng, nêu nhận thức của đảng về bản chất của CNXH trong bối cảnh hiện đại. Đại hội lần tới sẽ được tổ chức vào tháng 11/2008, tập trung vào mục tiêu lớn nhất là cải cách lại Đảng và chọn ra người đứng đầu. Hiện nay, dường như Đảng không có người lãnh đạo thực sự có sức tập hợp lực lượng nữa.

- Đảng Cộng sản: ra đời năm 1920, theo đường lối mác-xít, với mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng con đường hoà bình. Từ cuối những năm 70, số lượng đảng viên giảm rõ rệt do tác động của tình hình quốc tế và đấu tranh giữa các khuynh hướng trong nội bộ đảng. Bí thư toàn quốc là Bà Ma-ri Gioóc Buýp-phê.

 - Đảng Xanh (Les Verts): thành lập 1984, chủ trương "đoàn kết, có trách nhiệm đối với hành tinh và trách nhiệm công dân". 

Ngoài ra còn có các đảng khác như : Phong trào Công dân (Mouvement des citoyens); Đảng Xã hội cấp tiến (Parti Radical Socialiste); Đảng Đấu tranh Công nhân (Lutte Ouvrière)...

2.2. Các đảng phái cánh hữu:

- Đảng Liên minh vì phong trào nhân dân (UMP) thành lập tháng 10/2002, tập hợp các đảng RPR, UDF và cánh trung hữu của Lực lượng Dân chủ. UMP là đảng cầm quyền hiện nay tại Pháp. Tổng thống Sarkozy tuy không giữ chức Chủ tịch đảng nhưng trên thực tế vẫn tiếp tục lãnh đạo UMP và có tiếng nói quyết định trong đảng. Ban Lãnh đạo của đảng gồm 2 Tổng Thư ký.
 
- Đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia - Front National: thành lập năm 1972. Đầu năm 1999, phân liệt thành 2 đảng Mặt trận Quốc gia và Mặt trận Quốc gia-Phong trào Quốc gia (Front National-Mouvement National). Tại cuộc bầu cử tổng thống 5/2002, Đảng này đã lợi dụng tâm lý chán nản của dân chúng trong một số vấn đề như nhập cư, thất nghiệp nên lần đầu tiên đã lọt được vào vòng II.

2.3. Các Đảng trung dung:

- Đảng Phong trào Dân chủ (MoDem): do François Bayrou thành lập tháng 12/2007 và làm Chủ tịch trên cơ sở lực lượng UDF trung thành với ông (đảng UDF không còn tồn tại). MoDem hiện có khoảng 50-60 vạn đảng viên và chủ trương tham gia vào công cuộc cải tổ xã hội Pháp, sẽ ủng hộ hoặc phản đối những biện pháp của Chính phủ nếu thấy các biện pháp đó phù hợp hoặc không phù hợp với xã hội Pháp.

- Đảng Trung dung mới (NC): do các Nghị sĩ đảng UDF tái cử khác thành lập  tháng 5/2007. Chủ tịch Đảng là ông André Santini. NC ủng hộ phe đa số của tổng thống Sarkozy nhưng vẫn muốn có sự độc lập về chính trị với đảng UMP.

V. Chính sách đối ngoại và quốc phòng

Pháp là nước cổ động mạnh nhất cho việc hình thành một thế giới đa cực, trong đó EU đóng một vai trò nòng cốt. Tân Tổng thống Sarkozy mong muốn thể hiện chính sách mới, phong cách mới, “đoạn tuyệt” với quá khứ.

Chính quyền Sarkozy chủ trương ưu tiên vấn đề dân chủ, nhân quyền trong chính sách đối thoại. Pháp đề cao các giá trị, nhân quyền và chủ trương tích cực đi đầu trong việc khuyến khích và giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể, Pháp vẫn tính đến lợi ích thiết thực trong quan hệ với những đối tượng cụ thể.
 
1. Với châu Âu:  Ưu tiên hàng đầu vẫn là xây dựng và củng cố quan hệ với châu Âu. Tổng thống Sarkozy đã thành công trong việc đưa EU thoát khỏi tình trạng bế tắc về thể chế bằng việc thuyết phục các nước thông qua nội dung hiệp ước giản đơn; tăng cường quan hệ với Anh, Đức, Italia, Tây Ban Nha; thúc đẩy quan hệ với các nước Đông và Trung Âu sau thời kỳ lạnh nhạt dưới thời Tổng thống Chirac; củng cố vai trò của Pháp tại châu Âu.

Pháp sẽ đảm nhiệm chức Chủ tịch EU từ ngày 01/7/2008 và trong nhiệm kỳ này, Pháp sẽ triển khai các cải cách về chính trị, an ninh-phòng thủ và giải quyết một số vấn đề liên quan đến bản sắc châu Âu, nhập cư và quan hệ giữa các thành viên cũ và mới của EU.
 
2. Với Mỹ:
  Quan hệ Pháp-Mỹ cải thiện rõ rệt, nồng ấm hơn, có khả năng hình thành một trục quan hệ Mỹ-Anh-Pháp-Đức mới. Tuy nhiên, hai bên còn một số bất đồng liên quan đến vai trò của Mỹ trong cuộc chiến chống sự thay đổi của khí hậu và duy trì chính sách đồng đô-la yếu. Pháp chủ trương tái hòa nhập cơ chế chỉ huy của NATO, coi NATO là lực lượng quân sự của châu Âu có vai trò bổ trợ lẫn nhau.

3. Với châu Phi: Pháp tiếp tục coi châu Phi là một ưu tiên, thúc đẩy sáng kiến Liên minh Địa Trung Hải, chủ trương triển khai cơ chế đồng phát triển với các nước châu Phi da đen trước đây là thuộc địa của Pháp. Tuy nhiên, ngân sách hỗ trợ cho châu Phi đã bị cắt giảm và vai trò của Pháp tiếp tục suy giảm do chưa giải quyết dứt điểm được những cuộc khủng hoảng chính trị-quân sự đã kéo dài nhiều năm tại một số quốc gia châu Phi, đồng thời do Trung Quốc và Mỹ không ngừng gia tăng xâm nhập và ảnh hưởng đối với châu Phi.
 
4. Với châu Á - Thái Bình Dương: Tiếp tục duy trì quan hệ cân bằng với các cường quốc như Nga, Nhật Bản. Chủ động đẩy mạnh quan hệ, đối thoại với một số nước mới nổi. Quan hệ với Trung Quốc đặc biệt được coi trọng do vị trí địa-chiến lược quốc tế ngày càng quan trọng, tiềm năng kinh tế dồi dào. Tuy nhiên hai nước còn có nhiều điểm bất đồng liên quan đến tỷ giá đồng nhân dân tệ và vấn đề nhân quyền tại Trung Quốc. Tồng thống Pháp N. Sarkozy tuyên bố nhiệm kỳ chủ tịch EU của Pháp tới đây sẽ là một “nhiệm kỳ châu Á”. Mặc dù không nhắc đến lời nào về châu Á trong các bài phát biểu của Tổng thống khi mới nhậm chức, nhưng Pháp vẫn chủ trương tăng cường quan hệ với khu vực này trên tất cả các lĩnh vực.

5. Với Liên Hợp Quốc: Pháp đề cao vai trò của LHQ, ủng hộ mở rộng HĐBA-LHQ, tích cực tham gia các hoạt động can thiệp của LHQ trong các cuộc xung đột khu vực, cử quân đội tham gia lực lượng của LHQ. Pháp là nước có số quân đông nhất tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ (gần 10.000 người).
 
6. Chính sách quốc phòng: Trong chiến lược quốc phòng sau chiến tranh lạnh, Pháp chủ trương xây dựng lực lượng quốc phòng trong khuôn khổ đa phương (trong NATO, trong Liên minh Tây Âu (UEO), hay trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc) và trong khuôn khổ các Hiệp định song phương với các nước (đặc biệt với các nước châu Phi). Pháp thực hiện cải cách quốc phòng nhằm xây dựng một quân đội chuyên nghiệp (từ 2002), bãi bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự tự nguyện; cắt giảm ngân sách và quân số, xây dựng quân đội dựa trên 4 lực lượng: răn đe hạt nhân, phòng ngừa, triển khai nhanh và bảo vệ (an ninh trong nước). Cải cách quân đội đi đôi với tổ chức lại nền công nghiệp quốc phòng để có khả năng cung cấp cho quân đội những vũ khí hiện đại nhất và tham gia xây dựng nền công nghiệp quốc phòng châu Âu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường vũ khí thế giới./.

QUAN HỆ VIỆT NAM – PHÁP

Việt Nam và Pháp thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ ngày 12/4/1973. Quan hệ hai nước đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau:

- Giai đoạn 1975-1978: Sau khi ta giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam và Pháp tăng cường quan hệ nhiều mặt và đã ký một loạt nghị định thư tài chính. Đỉnh cao quan hệ là chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tháng 4/1977.

- Trong những năm 80, quan hệ hai nước bị ngưng đọng do vấn đề Campuchia. Các nước phương Tây thi hành chính sách cô lập Việt Nam, gây sức ép đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, nhưng thái độ của Pháp có mức độ.

- Từ đầu năm 1982, Việt Nam và Pháp thiết lập Uỷ ban hỗn hợp Hợp tác Văn hóa, Khoa học kỹ thuật liên Chính phủ; Uỷ ban họp thường kỳ hai năm một lần. Phiên họp thứ 11 của Uỷ ban đã được tổ chức tại Hà Nội tháng 5/2000.

- Từ năm 1989, quan hệ Việt-Pháp được cải thiện trở lại. Pháp đã đi đầu các nước phương Tây trong khai thông quan hệ với Việt Nam, xoá nợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam giải quyết nợ với các nước chủ nợ, thành viên CLB Paris. Việt Nam và Pháp đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao thăm viếng lẫn nhau.

- Về phía Pháp, Tổng thống François Mitterrand thăm chính thức Việt Nam tháng 02/1993; Tổng thống Jacques Chirac thăm chính thức Việt Nam tháng 11/1997 trước thềm Hội nghị cấp cao các nước có sử dụng tiếng Pháp lần thứ 7 tổ chức tại Hà Nội; Chủ tịch Thượng viện Christian Poncelet thăm hữu nghị chính thức tháng 5/2003; Tổng thống Jacques Chirac thăm chính thức Việt Nam lần thứ 2 vào tháng 10/2004 ngay trước Hội nghị cấp cao Á-Âu lần thứ 5 (ASEM 5).

- Về phía Việt Nam, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm Pháp tháng 6/1993, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh tháng 9/1993, Chủ tịch nước Lê Đức Anh sang dự Lễ Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Phát-xít theo lời mời của Tổng thổng Pháp tháng 5/1995, Thủ tướng Phan Văn Khải tháng 4/1998, TBT Lê Khả Phiêu thăm chính thức tháng 5/2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm cấp Nhà nước tháng 10/2002. Đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của Lãnh đạo Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhân dịp này, Tổng thống J. Chirac đã trao tặng Chủ tịch nước Trần Đức Lương Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh hạng nhất, huân chương cao quý nhất của Nhà nước Pháp. TBT Nông Đức Mạnh thăm chính thức tháng 6/2005, nhân dịp này hai bên quyết định thành lập Hội đồng cấp cao vì sự phát triển hợp tác kinh tế Việt Nam-Pháp với chức năng định hướng, thúc đẩy và huy động các nguồn lực để thực hiện các dự án hợp tác cụ thể. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm Pháp (30/9 – 03/10/2007). Đây là chuyến thăm cấp cao đầu tiên kể từ khi hai nước có Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ và Quốc hội mới. Chuyến thăm lần này đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ song phương. Trước vai trò và vị thế ngày càng tăng của Việt Nam cả về chính trị cũng như kinh tế, Pháp thể hiện sự quan tâm rõ ràng và lớn hơn trong việc thúc đẩy quan hệ với ta. Chuyến thăm là một thành công lớn về kinh tế với việc Thủ tướng gặp trên 50 lãnh đạo các tập đoàn lớn của Pháp và việc ký được trên 20 thoả thuận, hợp đồng kinh tế quan trọng trị giá nhiều tỷ đô la.

- Ngày 05/4/2006, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã quyết định thành lập Hội đồng cấp cao vì sự phát triển hợp tác kinh tế Việt-Pháp. Đồng Chủ tịch phía Việt Nam là Thứ trưởng Bộ KHĐT phụ trách kinh tế đối ngoại Cao Viết Sinh. Đồng Chủ tịch phía Pháp là ông Jacques OUDIN, Thượng nghị sỹ danh dự, Thẩm phán Tòa Thẩm kế Pháp. Phiên họp đầu tiên đã được tổ chức tại Paris tháng 10/2006. Phiên họp thứ hai đã được tổ chức tại Tp. HCM ngày 08/4/2008.

- Ngày 15/9/2006, hai bên đã ký Tài liệu khung về quan hệ đối tác Việt Nam – Pháp giai đoạn 2006-2010. Pháp cam kết sẽ viện trợ cho Việt Nam 1,4 tỷ đô –la từ nay tới 2010.

- Tháng 10/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  thăm chính thức Pháp. Chuyến thăm thành công tốt đẹp, cho phép nâng cao chất lượng quan hệ song phương, tăng cường đối thoại chính trị, thúc đẩy quan hệ hợp tác, đầu tư thương mại giữa hai nước.

Quan hệ kinh tế 

1. Hỗ trợ phát triển

Việt Nam là một trong ít nước được hưởng cả ba kênh viện trợ tài chính của Pháp là viện trợ phát triển chính thức từ ngân khố và cho vay ưu đãi từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và từ Quỹ Đoàn kết ưu tiên (FSP). Lượng ODA Pháp dành cho Việt Nam duy trì ở mức cao, đứng thứ hai trong các nước cung cấp ODA cho Việt Nam. Việt Nam hiện đứng thứ 7 trong số các nước hưởng ODA của Pháp. Đến nay, Pháp đã cấp cho Việt Nam tổng số vốn trên 1,2 tỷ euro cho trên 210 dự án. Năm 2007, ODA đạt 370 triệu đôla.

Pháp đã định hướng hợp tác trung hạn với Việt Nam, tập trung thế mạnh của Pháp vào 4 lĩnh vực ưu tiên :

- Hỗ trợ Việt Nam cải cách pháp luật và chính trị   
- Hỗ trợ chương trình hiện đại hóa hệ thống giáo dục và nghiên cứu.
- Hỗ trợ chuyển đổi nền kinh tế. 
- Góp phần giảm nghèo, cải thiện phúc lợi xã hội qua việc tham gia vào các hoạt động y tế cộng đồng.

2. Trao đổi thương mại

Trong những năm gần đây, kim ngạch trao đổi thương mại Việt - Pháp tăng liên tục (khoảng 10-15%/năm), đưa Pháp trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam ở Tây Âu. Năm 2005, lần đầu tiên ta xuất trên 1 tỷ euro sang Pháp trong kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1,5 tỷ euro. Năm 2006, kim ngạch hai chiều tiếp tục tăng khoảng 10% đạt khoảng 1,6 tỷ euro. Năm 2007, kim ngạch hai chiều đạt 1,33 tỷ euro.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Pháp là giày dép, dệt may, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản, hàng nông sản. Các mặt hàng nhập khẩu chính là máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu may, máy bay dân dụng, dược phẩm, hóa chất, thực phẩm và thực phẩm chế biến.

3. Đầu tư

Pháp đứng đầu các nước Châu Âu và đứng thứ 9 trong tổng số 77 nước và lãnh thổ đầu tư ở Việt Nam (năm 2006 Pháp đứng thứ 7). Tính đến tháng 5/2007, Pháp đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn cam kết khoảng 2,25 tỷ đô-la (trong đó đã thực hiện khoảng 1,15 tỷ đô-la) cho trên 179 dự án. Các lĩnh vực có vốn đầu tư lớn là dịch vụ (50% tổng vốn), công nghiệp (37%). Hình thức đầu tư bao gồm hợp đồng hợp tác kinh doanh (chiếm 31%), BOT (29,6%) với quy mô trung bình là 16,24 triệu USD/dự án. Đầu tư trực tiếp của Pháp tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, giao thông và viễn thông, khách sạn và dịch vụ, chế biến thực phẩm; phân bổ trên khoảng 30 địa phương, tập trung phần lớn tại thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hà Nội.

Hợp tác văn hoá, khoa học và kỹ thuật

1. Hợp tác khoa học và công nghệ

Chính phủ Pháp xác định Việt Nam nằm trong số các nước hợp tác ưu tiên của Pháp. Hợp tác Việt-Pháp hiện nay được thực hiện thông qua các dự án do Quỹ Đoàn kết Ưu tiên (FSP) của Pháp tài trợ. Đây thường là các chương trình lớn, dài hạn về nghiên cứu, phát triển công nghệ, đào tạo phục vụ phát triển kinh tế xã hội; phát huy giá trị văn hóa; tăng cường năng lực về pháp luật và hành chính, … với kinh phí trung bình cho mỗi dự án khoảng trên một triệu euro.

 Tháng 3/2007, Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai Chính phủ đã được ký kết nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các chuyên gia, cơ quan và tổ chức khoa học và công nghệ hai nước tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác. Hợp tác trong lĩnh vực ứng dụng hạt nhân ngày càng được tăng cường trong khuôn khổ Thỏa thuận giữa Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam và Uỷ ban Năng lượng Nguyên tử Pháp (CEA) như hợp tác đào tạo cán bộ về công nghệ hạt nhân và khai thác sử dụng chương trình tính toán của CEA, cung cấp tài liệu tuyên truyền về điện hạt nhân cho công chúng.

2. Hợp tác về giáo dục và đào tạo

Hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Pháp đã hình thành và phát triển từ đầu những năm 80. Pháp luôn coi giáo dục và đào tạo là mục tiêu ưu tiên trong hoạt động hợp tác của mình tại Việt Nam. Các lĩnh vực hợp tác với Pháp tập trung chủ yếu vào việc giảng dạy và phát triển tiếng Pháp, đào tạo nguồn nhân lực ở bậc đại học, sau đại học trong nhiều lĩnh vực: quản lý kinh tế, ngân hàng, tài chính, luật, công nghệ mới…

 Hàng năm, Chính phủ Pháp dành một khoản ngân sách trị giá 1,7 triệu Euro để cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Pháp học tập, nhằm giúp Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách học bổng của Pháp tập trung chủ yếu cho các chương trình đào tạo ở bậc học thạc sỹ và tiến sỹ. Số lượng sinh viên Việt Nam du học tại Pháp tăng khoảng 40% trong vòng 10 năm và con số hiện nay khoảng 5000 sinh viên.

3. Hợp tác văn hóa

Giao lưu văn hoá giữa hai nước ngày càng phát triển. Chính phủ Pháp đã dành cho Việt Nam một khoản tài trợ 1,4 triệu Euro hỗ trợ cho chính sách hội nhập văn hóa của Việt Nam với phương châm khẳng định, tôn trọng sự đa dạng văn hoá Việt Nam. Liên hoan nghệ thuật Festival Huế được tổ chức lần đầu vào tháng 4/2000 với sự tài trợ và tham gia tích cực của Pháp đã được tổ chức tới lần thứ 4 và trở thành một hoạt động văn hóa quốc tế.

4. Các hoạt động hợp tác khác

- Hợp tác giữa các địa phương hai nước (hợp tác phi tập trung) ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu. Hiện có 52 địa phương (Vùng, Tỉnh) của Pháp là đối tác với 54 tỉnh/thành phố vủa Việt Nam. Hội nghị hợp tác Phi tập trung lần thứ 6 được tổ chức lần đầu tiên tại Việt Nam năm 2005. Hội nghị lần thứ 7 được tổ chức tại Pháp từ 22-23/10/2007 với sự tham gia của 700 đại biểu của cả hai bên, trong đó Việt Nam có 22 đoàn trong nước tham dự.

- Pháp ngữ : Đều là thành viên của tổ chức Pháp ngữ, hai nước có nhiều hoạt động hợp tác trong khuôn khổ tổ chức Pháp ngữ, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Pháp, giảng dạy đại học, các hoạt động nghị viện… 

- Hợp tác ba bên :  Giữa Việt Nam, Pháp với/hoặc một tổ chức tài trợ và một số nước châu Phi như Mali, Burkina Faso, Senegal trong cách lĩnh vực nông nghiệp, y tế… đã thu được những kết quả tốt và được các nước thụ hưởng hoan nghênh, đề nghị nhân rộng.

Hà Nội, tháng 6 năm 2008

Sở ngoại vụ Hà Giang ( theo BNG )
Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang (tên cũ là Sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà giang) được thành lập ngày 01/01/2004 trên cơ sở kiện toàn Ban đối ngoại (1993). Căn cứ theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1119/QĐ-UBND ngày 16/4/2008 của Uỷ Ban nhân dân tỉnh Hà Giang, sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà Giang đổi tên thành Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang...
TIN NỔI BẬT
Bạn đến từ khu vực nào?
Hà Nội
Huế
Đà nẵng
TP. Hồ Chí Minh
Khu vực khác

Lượt truy cập: 3281133
Truy cập/ngày: 1035
Online: 4
Thành viên: 0
Khách: 4


Sở Ngoại Vụ Tỉnh Hà Giang
Trưởng ban chỉ đạo: Ma Ngọc Tiến - Giám đốc Sở

Địa chỉ: Đường Trần Quốc Toản - Phường Nguyễn Trãi - Thị xã Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Điện thoại: (+84) 0219 3860215; (+84) 0219 3866533; (+84) 0219 3862852 - Fax: (+84) 0219 3866942 - Email: ngoaivuhagiang@vnn.vn

  Developed by AZNET